Để Trở Thành Chuyên Gia Bảo Mật (Module16 – P1) Chống IDS, Firewall Và Honeypot

IDS, Firewall và Honeypot là các thành phần bảo vệ mạng, phòng chống và dò tìm hacker hữu hiệu nhất. Cả IDS và Firewall đều là những thiết bị lọc packet thiết yếu dùng để giám sát các luồng dữ liệu vào và ra hay đang lưu chuyển trên hệ thống mạng dựa trên tập hợp những quy tắt được định nghĩa thích hợp. Trong khi đó honeypit được xây dựng với mục đích đánh lừa hacker với một số lổ hỗng bảo mật được tạo ra có chủ đích mời gọi hacker tấn công. Điều này không những bảo vệ được hệ thống thật sự mà còn lưu giữ các chứng cứ để có thể lần ra dấu vết của hacker, phát hiện các dạng tấn công mới hay thậm chí các tổ chức bảo mật còn sử dụng honeypot để phát hiện ra các hệ thống botnet. Vì vậy, các tổ chức tội phạm mạng rất ngại những hệ thống honeypot như vậy, và nếu như bọn chúng phát hiện ra các hệ thống như trên thì sẽ tiến hành các đợt tấn công DoS/DDoS nhằm đánh sập các “bẫy bảo mật” này.
Tuy nhiên, cũng như nhiều thành phần bảo vệ mạng khác IDS, Firewall và Honeypot cần được thiết kế, sắp đặt tại những vị trí hợp lý mới đem đến hiệu quả. Trong vai trò CEH chúng ta cần hiểu rõ cơ chế vận hành của các hệ thống trên cũng như những rũi ro của chúng.

Các Loại IDS – Hệ Thống Dò Tìm Xâm Phạm Trái Phép

IDS là viết tắt của Instruction Detect System, hệ thống dò tìm hay phát hiệm các sự xâm phạm trái phép. Hệ thống này tương tự như chuông báo động trong các tòa nhà dùng để cảnh báo khi có trộm xâm nhập. IDS hoạt động dựa trên các quy tắt và những dữ liệu nhận dạng, nếu một hành động xảy ra khớp với một dữ liệu nhận dạng thi hành động tương ứng đã được định nghĩa trong quy tắt sẽ được thực thi. Nói một cách đơn giãn khi các bạn triển khai một hệ thống IDS, và có một hacer đang tiến hành scan port để dò tìm các dịch vụ đang chạy thì hành động này sẽ tương ứng với qyuy tắt về scan port attack, do đó một hành động thích hợp sẽ được gởi đến sysadmin để có hành động thích ứng, việc cảnh báo này có thể thực hiện qua email, cuộc gọi thoại hay tin nhắn.

Cao cấp hơn, các hệ thống cảnh báo có khả năng thực hiện hành động ngăn ngừa thích hợp ví dụ như sẽ cô lập địa chỉ IP đã phát động cuộc tấn công, hay tạm đóng các dịch vụ … đây chính là IPS hay Instruction prevention system – hệ thống ngăn ngừa sự xâm nhập trái phép

Như vậy, để IDS / IPS có thể phát hiện các sự xâm nhập trái phép cần có cơ sở dữ liệu nhận dạng đúng, do đó chúng ta cần phải cập nhật đầy đủ dữ liệu này để IDS luôn nhận biết được các hành động bất thường xảy ra. Nhưng cũng như những hệ thống cảnh báo trong đời thực, việc cảnh báo sai là một trong những hạn chế của những hệ thống này.

Có hai dạng IDS :

  1. Host-based IDS (HIDS) : Là ứng dụng được cài đặt trên một hệ thống hay một máy trạm và giám sát thông tin truyền thông dựa trên các dữ liệu nhận dạng cho riêng hệ thống hay máy tính được cài đặt, và không có khả năng giám sát cho các hệ thống khác. Một số HIDS thông dụng trên thị trường như Norton Interne
    Security hay Cisco Security Agent (CSA). Lưu ý : Một số virus có khả năng vô hiệu hóa các HIDS.
  2. Network-based IDS (NIDS) : Có chức năng tương tự như HIDS những phạm vi hoạt động bao phủ lên toàn mạng chứ không chỉ có tác dụng trên một máy tính hay máy trạm riêng rẽ. NIDS có khả năng dò tìm và phát hiện ra ra những dạng tấn công mà firewall không nhận biết được. Bao gồm các tình huốn tấn công vào những dịch vụ bị khiếm khuyết về bảo mật, tấn công leo thang mức ưu tiên hay còn gọi là leo thang đặc quyền, đăng nhập trái phép, truy cập vào khu vực dữ liệu nhạy cảm hay phát hiện các mã độc lan truyền trên mạng. Ví dụ khi hệ thống mạng bị lây nhiễm virus conflicker thì hệ thống NIDS Snort có khả năng nhậnbiết dựa trên dữ liệu nhận dạng của vrus này và gỏi báo động về cho sysadmin, cũng cần lưu ý Snort có thể hoạt động như là NIDS hay HIDS.
    Trong vai trò NIDS, hệ thống hoạt động như là một passive sniffer (lắng nghe thụ động) chuyên lưu giữ và phân tích các dữ liệu truyền và so sánh với các dữ liệu nhận dạng để dò ra những hành động gây ảnh hưởng đến an toàn thông tin như khai thác, quét lỗi, dò cổng … sau đó lưu lại trong các tập tin nhật kí và gởi tín hiệu cảnh báo.

Giới Thiệu Về Snort IDS

Snort (nguồn www.snort.org) là phần mềm IDS mạnh mẽ có khả năng hoạt động ở hai chế độ HIDS hay NIDS. Do là một phần mềm nguồn mở, miễn phí nên Snort được ứng dụng nhiều trên những hệ thống và là chương trình được bình chọn bởi các hacker trng danh sách những công cụ bảo mật hàng đầu. Snort có 4 chế độ họat dộng khác nhau đó
là:

  • Sniffer mode: ở chế độcnày snort sẽ lắng nghe và đọc các gói tin trên mạng sau đó sẽ trình bày kết quả trên giao diện hiển thị.
  • Packet Logger mode : lưu trữ các gói tin trong các tập tin log.
  • Network instruction detect system (NIDS) : đây là chế dộ họat động mạnh mẽ và được áp dụng nhiều nhất, khi họat động ở NIDS mode Snort sẽ phân tích các gói tin luân chuyển trên mạng và so sánh với các thông tin được định nghĩa của người dùng để từ đó có những hành động tương ứng như thông báo cho quản trị mạng khi xảy ra tình huống quét lỗi do các hacker/attacker tiến hành hay cảnh báo virus..
  • Inline mode: khi triển khai snort trên linux thì chúng ta có thể cấu hình snort để phân tích các gói tin từ iptables thay vì libpcap do đó iptable có thể drop hoặc pass các gói tin theo snort rule.

Cơ Chế Hoạt Động Của Snort

Snort dùng một card mạng ở chế độ promocous mode để lưu giữ các gói tin trước khi phân tích chúng cho nên tốt nhất là các máy tính chạy Snort nên đặt ở các colision domain hay trên các máy chủ tập tung các truyền thông trên mạng như router hay gateway hoặc kết nối vào các cổng SPAN của Switch , bạn có thể đặt Snort trước hoặc sau một hệ thống firewall tùy yêu cầu bảo mật của tổ chức. Và nếu hệ thống mạng có nhiều phân đọan mạng thì mỗi subnet (lớp mạng con) phải có một máy chủ Snort được cài đặt, không như các sản phẩm thương mại khác ngòai tính năng chi phí bản quyền cao thì thường đòi hỏi cấu hình phần cứng mạn, với Snort bạn có thể, vâng có thể cài đặt và cấu hình trên x386 computer, tuy nhiên ta cần có đĩa cứng có đủ không gian trống để lưu trữ các packet được bắt giữ, và với công nghệ lưu trữ hiện nay thì điều nầy không phải là một vấn đề.
Snort họat động như một network sniffer lắng nghe và lưu giữ các packet trên mạng sau đó so sánh các nội dung (payload) hoặc header của chúng với một tập các qui tắc đã được định nghĩa gọi là các Snort rule và khi một sự trùng khớp giữa rule và các packet thì những hành động của rule sẽ được tiến hành tùy theo định nghĩa. Một điểm thuận lợi là các rule này luôn được cập nhật nhanh chóng bởi cộng đồng phát triển cho nên khả năng đáp ứng của Snort trước các dạng tấn công hiện đại rất cao.

Snort sử dụng ba thành phần sau để tiến hành công việc của mình:

  • Packet decoder : phân tích gói tin, kể cả IP Header và Data Payload
  • Detect engineer : dò tìm các dâu hiệu khả nghi theo tập hợp các quy tắc.
  • Logging và alert system : lưu giữ và cảnh báo.

Ba thành phần này dùng libcap để lưu giữ gói tin khi chúng ta cài Snort trên hệ điều hành linux. Còn nếu ta cài trên hệ thống windows thì phải thay libcap bằng winpcap.

Kỹ Thuật Tránh Bị IDS Dò Tìm Của Hacker
Bên cạnh việc nhận biết những dấu hiệu khả nghi dựa trên dữ liệu nhận dạng gọi là các signature thì IDS còn có thể phát hiện ra các mối đe dọa dựa trên những hành động bất thường gọi là anomaly detection. Những hệ thống phát hiện theo cơ chế anomaly detection căn cứ vào một mốc chuẩn mà tại đó hệ thống hoạt động ổn định hay đạt mức an toàn, và khi có những hành vi làm thay đổi tình trạng này thì IDS sẽ đưa ra những cảnh báo tương ứng. Ví dụ thông thường CPU chỉ hoạt động ở mức 30 % hiệu suất nhưng đột nhiên tăng lên hơn 90 % thì đây chính là một tình huống bất thường cần quan tâm đặc biệt, hoặc băng thông mạng đột nhiên bị tràn ngập bở các gói tin thì có khả năng hệ thống đang bị một đợt tấn công từ chối dịch vụ.
Để tránh bị các hệ thống IDS phát hiện thì những hacker kinh nghiệm thường thay đổi dữ liệu truyển sao cho khung trùng khớp với dữ liệu nhận dạng như sử dụng một giao thức khác là UDP thay cho TCP hay HTTP thay cho ICMP để triển khai các đợt tấn công. Ngoài ra, những kẻ tấn công còn chia các gói tin thành nhiều gói tin nhỏ hơn nhằm qua mặt IDS nhưng khi tổng hợp thành dữ liệu gốc tại đích đến thì có khả năng gây nguy hiểm đến hệ thống. Cơ chế này được gọi là session splicing. Một số kỹ thuât qua mặt IDS khác có thể kể đến ví dụ như chèn thêm các dữ liệu mở rộng, obfuscating dữ liệu hay địa chỉ bằng cách mã hóa, truyền thông không đồng bộ hay chiếm quyền sở hữu  session của client.

Mô Hình Firewall

Firewall hay tường lữa là những thiết bị phần cứng hay phần mềm có tác dụng như hàng rào bảo vệ cho hệ thống mạng. Firewall kiểm soát các luồng dữ liệu vào và ra trên hệ thống mạng và đưa ra các hành động cho phép / từ chối (allow / deny) căn cứ trên tập hợp các quy tắt áp dụng cho những luồng dữ liệu này. Những thiết bị firewall phần cứng như Checkpoint Firewall, Cisco ASA, CyberRoam …, còn các firewall dạng phần mềm thì có IPCOP, ISA Server Firewall.

Khi triển khai firewall để bảo vệ hệ thống mạng chúng ta cần lưu ý đến vị trí của chúng. Thông thường thì những thành phần bảo vệ này được đặt tại các vùng biên (perimeter) để bảo vệ và ngăn cách lớp mạng bên trong với bên ngoài là internet. Vùng bên trong thường được gọi là vùng tin cậy trusted-zone, còn phía bên ngoài là untrusted-zone hay được mô tả bằng các màu tương ứng là xanh và đỏ.

Một số ứng dụng còn quy định vùng DMZ (lấy từ thuật ngữ quân sự chỉ những vùng phi quân sự) dùng để đặt các máy chủ quan trọng của tổ chức như máy chủ mail, web, cơ sở dữ liệu. Vùng này được gán mã màu cam tách biệt hoàn toàn với phí bên trong và phí bên ngoài, ngăn chặn các sự tương tác trực tiếp nhằm bảo vệ tối đa cho các máy chủ quan trọng.

Ngoài ra, những mạng lớn hay dùng hai hệ thống firewall theo mô hình back-to-back tạo ra một hệ thống bảo vệ hai lớp đem đến sự an toàn cao hơn. Hai firewall này thường do các nhà cung cấp khác nhau hoạt động trên những nền tảng công nghệ khác với mục tiêu gia tăng sự trở ngại cho những cố gắng truy cập trái phép. Theo một số khuyến nghị thi firewall lớp trong hay dùng các hệ thống application firewall như ISA Server Firewall để dễ dàng quản trị hoặc có khả năng tích hợp với hệ thống quản trị vùng Active Directory, còn firewall lớp ngoài nên ứng dụng các thiết bị phần cứng với tính năng lọc gói tin mạnh mẽ nhằm nâng cao khả năng xử lý.

DMZ hay Demilitarized Zone là thuật ngữ chỉ những vùng phí quân sự dùng để đặt các máy chủ, ngăn chặn sự tương tác trực tiếp của các người dùng bên ngoài hệ thống và cả những người bên trong hệ thống. Tất cả những sự truy cập đến máy chủ đặt trongv ùng này đề được firewall kiểm soát chặt chẽ dựa trên các quy tắt.

Các Loại Firewall

  • Packet Fitering Firewall : Hoạt động tại tầng mạng của mô hình OSI và thường là một thành phần mở rộng của các thiết bị định tuyến. Các packet filtering firewall có khả năng kiểm soát dựa trên địa chỉ IP nguồn và đích cũng như số hiệu cổng nguồn và đích của luồng truyền thông.
  • Circuit Level Gateway Firewall : Hoạt động tại tầng Session của mô hình OSI dùng để giám sát quá trình three-way handshake để xác định các kết nối không hợp lệ.
  • Application Level Firewall : Hoạt động tại tầng ứng dụng, đây là những firewall cao cấp có khả năng kiểm soát dữ liệu truyền như data payload để phát hiện virus, trojan. Các máy khách trong vùng trusted-zone phải cấu hình sử dụng prozy để truy cập qua firewall dạng Application. Ngoài ra, các firewall hiện đại có thể chứa chức năng của cả ba loại firewall trên và đảm nhiệm công việc tại các tầng network, session và application trong mô hình OSI. Những hệ thống firewall kiểu này được gọi là Stateful Multilayer Inspection Firewall như hình minh họa dưới đâyNgoài khả năng bảo vệ hệ thống dựa trên việc kiểm soát các dữ liệu vào và ra, kiểm tra các địa chỉ IP nguồn / đích hay các số hiệu cổng liên quan đến những dịch vụ thì các hệ thống firewall còn có khả năng phát hiện các dạng tấn công như scan port, banner grabing hay khả năng ẩn port để phòng tránh việc phát hiện. Khi có dấu hiệu khả nghi xảy ra thì firewall sẽ phát ra các tính hiệu cảnh báo hay hành động thích hợp do người quản trị thiết lập. Tuy nhiên, đa số các firewall cần phải tích hợp với các thành phần mở rộng để có thể quét virus, trojan cho dữ liệu tải về của người dùng.. Ví dụ như hệ thống mở rộng Webmonitor GFI dùng cho ISA Server Firewall

PHẦN TIẾP THEO CHUÁNG TA SẼ TÌM HIỂU VỀ HỆ THỐNG HoneyPot – Hệ Thống Đánh Lừa Hacker

 

Bài Viết Cùng Nội Dung
Thiết kế Biên Hòa Thiet ke Bien Hoa Thiet ke website Thiết kế website Thiết kế web Biên Hòa Thiet ke web Bien Hoa Thiết kế web Đồng Nai Thiet ke web Dong Nai Thiết kế web tại Biên Hòa Thiet ke web tai Bien Hoa Thiết kế web ở tại Đồng Nai Thiet ke web o tai Đồng Nai Công ty thiet ke website Bien Hoa Dich thiet ke web mien phi o Dong Nai Thiết kế Logo Thiet ke logo Thiết kế Biên Hòa Thiết kế Đồng Nai Thiet ke logo Bien Hoa Thiết kế logo Biên Hòa Thiết kế logo Đồng Nai Thiet ke logo Dong Nai Thiết kế logo Biên Hòa Thiết logo Biên Hòa Thiet ke logo Bien Hoa Thiet ke log Dong Nai Thiết kế logo thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai thiết kế web biên hòa , thiết kế web đồng nai , thiet ke web bien hoa , thiet ke web dong nai